Trường Đại học Mỹ thuật Hà Nội (1981 - 2008)

Đăng tải bởi Administrator on . Posted in Lịch sử

Năm 1981, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Quyết định số 175/CT về việc đổi tên trường, từ Trường Cao đẳng Mỹ thuật Việt Nam thành Trường Đại học Mỹ thuật Hà Nội, trực thuộc Bộ Văn hóa - Thông tin. Mục tiêu của nhà trường trong giai đoạn này là : Giảng dạy - Nghiên cứu – Sáng tác, các mục tiêu được kết hợp đồng bộ hơn, hiệu quả hơn, theo đúng yêu cầu về đào tạo: trang bị kiến thức và rèn luyện kỹ năng nghiên cứu và sáng tác.

 

Tên gọi trường Đại học Mỹ thuật Hà Nội tồn tại từ năm 1981 đến năm 2008. Trong giai đoạn này, từng đảm đương cương vị Hiệu trưởng gồm có:

- Giáo sư, Nhà Giáo Nhân dân, Họa sỹ Trần Đình Thọ ( từ 1981 đến 1984)

- Phó Giáo sư, Nhà Giáo Nhân dân, Họa sỹ Nguyễn Thụ (từ 1984 đến 1992)

- Phó Giáo sư, Nhà Giáo Nhân dân, Họa sỹ Nguyễn Lương Tiểu Bạch ( từ 1992 đến 2006)

- Phó Giáo sư, Nhà Giáo Nhân dân, Họa sỹ Lê Anh Vân (từ 2006 đến 2008)

 

03bb

Đại tướng Võ Nguyên Giáp đến thăm trường Đại học Mỹ thuật Hà Nội

Giai đoạn 1981 – 1985

Trường Đại học Mỹ thuật Hà Nội bước lên một tầm cao mới, một sứ mệnh mới trong một hoàn cảnh chồng chất những khó khăn . Đây là giai đoạn cuối cùng của thời kỳ bao cấp, kinh tế khó khăn, xã hội Việt Nam tiềm ẩn nhiều nguy cơ khủng hoảng. Hoa Kỳ duy trì chính sách cấm vận kinh tế đã ngăn chặn các nguồn vốn đầu tư vào Việt Nam. Đây là giai đoạn bắt đầu có những chuyển biến về nhận thức, bắt đầu sự phê phán cơ chế tập trung quan liêu – bao cấp làm xã hội Việt Nam thời hậu chiến trở nên trì trệ và cứng nhắc. Công cuộc cải cách Giá – Lương – Tiền, không đạt kết quả như mong đợi, đã dẫn đến lạm phát siêu tốc, làm kiệt quệ nền kinh tế.

 

Cho dù hoàn cảnh khó khăn như vậy, nhưng hoạt động đào tạo và đặc biệt là nghiên cứu khoa học của trường rất sôi nổi. Các hội nghị khoa học của nhà trường trường tổ chức, với nòng cốt là các giảng viên khoa Lý luận và Lịch sử Mỹ thuật đã có ảnh hưởng không chỉ bó hẹp trong phạm vi nhà trường mà còn ảnh hưởng đến phong trào sáng tác của Hội Mỹ thuật. Những vấn đề thảo luận hết sức đa dạng, từ đường lối văn hóa văn nghệ đến phong cách nghệ thuật, những ngôn ngữ của nghệ thuật tạo hình. Trong triển lãm Mỹ thuật Toàn Quốc năm 1980, rồi 1985, đã báo hiệu một bước ngoặt về ý thức thẩm mỹ. Trường Đại học mỹ thuật Hà Nội trong những thời khắc quan trọng của lịch sử luôn chứng tỏ được vai trò và tầm vóc của mình. Dù phải hết sức khiêm tốn, đặc biệt là trước sự phát triển của lịch sử, cũng phải nói rằng, Đại học Mỹ thuật Hà Nội đã là nơi nuôi dưỡng và tạo đà cho những thay đổi của Mỹ thuật Việt Nam giai đoạn Đổi mới với những tên tuổi như Đặng Thị Khuê, Đỗ Thị Ninh, Đỗ Sơn, Lương Xuân Đoàn, Lê Anh Vân, Phạm Viết Hồng Lam, Ca Lê Thắng, Đào Minh Tri... Trên phương diện lý luận, cùng với NNC Thái Bá Vân (Viện Mỹ thuật), các giảng viên Nguyễn Trân, Triệu Thúc Đan, Nguyễn Quân... đã là những người sớm cập nhật lý thuyết nghệ thuật mới trên thế giới vào thực tiễn sáng tác nước nhà.

 

Thành tựu lớn nhất của giai đoạn này chính là sự gắn kết giữa hoạt động sáng tác với nghiên cứu khoa học của nhà trường.

 

35 - 8

Giảng viên nhà trường và các đại biểu tham dự Hội nghị khoa học lần II

 

35 - 3

 

02a copy

 

Giai đoạn 1986 – 1995

Chính sách Đổi mới trước hết là đổi mới cách nghĩ, cách hiểu, cách nhìn nhận một vấn đề đã ảnh hưởng tới mọi mặt đời sống xã hội. Nhà trường bắt đầu xem xét đánh giá lại việc vận dụng các nguyên tắc sáng tác mang tính khuôn mẫu có hạn chế những tìm tòi cá nhân. Tiêu chí hiện thực không còn là tiêu chí duy nhất. Các bài thi tốt nghiệp bắt đầu có sự thay đổi về đề tài, ngoài những hoạt cảnh của bốn giai tầng xã hội Công – Nông – Binh – Trí còn có những đề tài lễ hội, thể hiện mối quan tâm tới nét đặc sắc của văn hóa dân tộc. Con người cá nhân – nội tâm, con người cộng đồng – tâm linh bắt đầu xuất hiện trong các bài tốt nghiệp K28 năm 1989 và những năm sau .

 

Trong cách thể hiện, các bài tốt nghiệp đã thể hiện những bút pháp đa dạng của chủ nghĩa hiện đại.

 

Cũng từ giai đoạn này, quan hệ hợp tác quốc tế không còn bó hẹp trong khối các nước xã hội chủ nghĩa. Bắt đầu từ những năm đầu của thập niên 90 (thế kỷ XX), trường đã có quan hệ đối tác với trường Mỹ thuật Queenslan, đại học Melbourne và Asianlink, đã có nhiều đoàn nghệ sỹ Úc tới cư trú và sáng tác tại trường.

 

Giai đoạn 1996 – 2008

Những năm cuối cùng của thế kỷ XX và những năm đầu của thế kỷ XXI qua trình hội nhập khu vực và quốc tế của Việt Nam được thúc đẩy bằng việc Hoa Kỳ bình thường hóa quan hệ với Việt Nam, Việt Nam gia nhập Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á Asean và gia nhập tổ chức thương mại quốc tế WTO.

Trong năm 1996 và năm 1997 đã có những dự án nghệ thuật quan trọng, ghi dấu sự hội nhập của mỹ thuật Việt Nam với thế giới. Trại sáng tác tranh Trừu tượng giữa nghệ sỹ Việt kiều Nguyên Cầm với một số giảng viên trẻ và nghệ sỹ bên ngoài đã được trang trọng khai mạc tại bảo tàng trường và Trung tâm Ngôn ngữ Văn minh Pháp (nay là Trung Tâm Văn hóa Pháp). Năm 1997 Trung tâm ngôn ngữ văn minh Pháp cùng phối hợp với trường tổ chức Trại Sáng tác Nghệ thuật Đương đại Việt – Pháp.

 

HANH TRINH 1997

Giảng viên và sinh viên Trường Đại học Mỹ thuật Hà Nội

tham dự trại sáng tác tranh trừu tượng với nghệ sỹ Việt kiều Nguyên Cầm, năm 1997

 

01

Đại tướng Võ Nguyên Giáp tới thăm Trại Điêu khắc Quốc tế lần thứ I,

do trường Đại học Mỹ thuật Hà Nội tổ chức tại công viên Bách Thảo Hà Nội, năm 1997

 

Untitled-3

Họa sỹ Pháp Oliver Debré nói chuyện với giảng viên khoa Đồ họa

trong chuyến thăm trường Đại học Mỹ thuật Hà Nội, năm 1997

 

img093

 

nhung chuyen tham (26)

Nghệ sỹ Đức Günther Uecker

thực hiện triển lãm tại trường Đại học Mỹ thuật Hà Nội năm 1999

 

nuhoang

Hoàng hậu Thụy Điển Silvia thăm trường Đại học Mỹ thuật Hà Nội

và tham dự triển lãm Open, năm 2004

 

HARRIS

Triển lãm các tác phẩm màu nước và mực sumi -e của họa sỹ Frederick Harris, năm 2002